Ung thư tuyến giáp có nguy hiểm không? Nguyên nhân, dấu hiệu nhận biết

Ung thư tuyến giáp là bệnh gì, có nguy hiểm không? Nguyên nhân, cách điều trị

Hiện nay, ung thư tuyến giáp là một trong những bệnh lý khá là phổ biến và gặp nhiều, không chỉ ở những người độ tuổi trung niên mà còn có thể gặp cả ở lứa tuổi trẻ. Bệnh được xếp vào nhóm bệnh lý ở vùng đầu, mặt, cổ, xuất hiện cả ở cả nam giới và nữ giới, bệnh thường không có triệu chứng lâm sàng biểu hiện ra bên ngoài 1 cách rõ ràng. Vì vậy khi bệnh nhân đến khám đã ở giai đoạn muộn của bệnh. Vậy bệnh ung thư tuyến giáp là gì, nguyên nhân gây bệnh do đâu, bạn đọc hãy cùng nhau tìm hiểu qua bài viết dưới đây của Ameriver nhé.

1, Ung thư tuyến giáp là bệnh gì?

Đầu tiên để hiểu về ung thư tuyến giáp chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu xem ung thư thực là gì và định nghĩa của ung thư:

Ung thư là một tổ hợp các bệnh lý được đặc trưng do sự phát triển một cách mất kiểm soát của các tế bào trong cơ thể và các tế bào đó phân bào quá mức rồi dẫn đến khả năng xâm nhập, phá hủy các mô tế bào bình thường trong cơ thể. Từ đó gây nên những triệu chứng và bệnh lý biểu hiện ở cơ quan bị bệnh.

Hiện nay ở nước ta có hơn 100 loại bệnh ung thư khác nhau. Theo tổ chức y tế thế giới WHO thì tên ung thư thường được gọi theo tổ chức bị bệnh đầu tiên trong cơ thể hay còn gọi là tiên phát ví dụ như các tên gọi ung thư gan, ung thư thận, ung thư vú… Mặt khác bệnh ung thư cũng có thể được gọi theo các loại mô tế bào tạo thành chúng như ung thư mô liên kết hay còn gọi là sarcoma và ung thư biểu mô hay còn gọi là carcinoma. Ngoài ra các thể bệnh ung thư còn có thể phát triển từ máu, gọi là nhóm  bệnh lý về máu ác tính gây ảnh hưởng đến các tế bào máu, hạch lympho và tủy xương.

Ung thư tuyến giáp là một bệnh lý xảy ra khi những tế bào đang hoạt động bình thường ở tuyến giáp bị thay đổi về mặt cấu trúc và chức năng chuyển thành những tế bào có cấu trúc và hình dạng bất thường. Chúng thường sẽ phát triển không tuân theo quy luật hay sự kiểm soát vốn có của cơ thể con người, tạo ra các dạng tế bào ác tính.

2, Dịch tễ học

Bệnh ung thư tuyến giáp có tỷ lệ không quá cao, chúng chiếm khoảng 1% trên tổng số các loại ung thư. Đây là một dạng bệnh ung thư tại tuyến nội tiết hay gặp nhất, chiếm từ 92-95%. Bệnh thường gặp ở những đối tượng là nữ giới trong độ tuổi từ 20 đến 50 tuổi. Tỷ lệ gặp ung thư tuyến giáp giữa nữ và nam vào khoảng 3:1. Tỉ lệ ung thư tuyến giáp có xu hướng ngày càng gia tăng tại các vùng có lưu hành bệnh bướu cổ địa phương.

Trước kia, ung thư tuyến giáp là bệnh ung thư có tỉ lệ mắc phải không quá cao nhưng trong những năm gần đây bệnh đang ngày càng có xu hướng trở thành một bệnh lý phổ biến và đứng trong các loại bệnh ung thư thường gặp ở nữ giới, sau các bệnh ung thư vú, ung thư phổi, ung thư đại trực tràng và ung thư cổ tử cung. Số lượng người bệnh mắc ung thư tuyến giáp được chẩn đoán trong thời gian gần đây ngày càng tăng là do ngành y tế được trang bị nhiều máy móc hiện đại cũng như trang bị đầy đủ hơn về mặt kiến thức. Bên cạnh đó,  người dân cũng có ý thức hơn trong việc đi khám sức khỏe định kỳ.

3, Các yếu tố nguy cơ của bệnh ung thư tuyến giáp

Các yếu tố nguy cơ của bệnh ung thư tuyến giáp
Các yếu tố nguy cơ của bệnh ung thư tuyến giáp

Ung thư nói chung và bệnh ung thư tuyến giáp nói riêng là những bệnh không thể xác định được nguyên nhân một cách rõ ràng. Tuy nhiên ở bệnh lý tại tuyến giáp, người ta thấy có những yếu tố nguy cơ làm cho người ta dễ bị ung thư hơn như sau:

  • Người bệnh có tiền sử bị chiếu xạ hoặc nhiễm xạ: Người ta thấy rằng tỷ lệ của bệnh ung thư tuyến giáp sẽ gia tăng khi bệnh nhân có tiền sử chiếu xạ vùng đầu mặt cổ để điều trị các bệnh lý toàn thân hoặc khi bệnh nhân bị nhiễm các chất độc phóng xạ.
  • Yếu tố di truyền: Theo nghiên cứu, có khoảng 70% số bệnh nhân bị ung thư tuyến giáp có người thân trong gia đình đã từng bị mắc bệnh này. Nhưng cho đến nay các nhà khoa học vẫn chưa thể xác định và tìm ra được kiểu gen nào dẫn tới sự di truyền này
  • Mắc các bệnh lý tuyến giáp: Những người bệnh đang mắc bệnh bướu giáp, bệnh lý cường giáp hoặc rối loạn các hormone tuyến giáp mãn tính đều có nguy cơ mắc bệnh ung thư tuyến giáp cao hơn so với những người khác. Hoặc ở những người có tiền sử mắc bệnh liên quan đến tuyến giáp như viêm tuyến giáp, dù đã điều trị khỏi thì vẫn để lại nguy cơ tái phát bệnh khá cao.
  • Tuổi: Ung thư tuyến giáp có thể gặp ở mọi độ tuổi, nhưng bệnh chiếm tỷ lệ cao hơn ở độ tuổi từ 10 đến 20 và từ 40 đến 60. Sau 60 tuổi, bệnh ung thư giáp thể không biệt hóa chiếm 10 đến 15% các loại ung thư tại tuyến giáp.
  • Giới tính: Tỷ lệ mắc bệnh ung thư tuyến giáp ở nữ giới so với nam giới thường cao gấp 2- 3 lần.
  • Một số yếu tố khác: Bệnh nhân cũng có thể bị ung thư tuyến giáp nếu cơ thể có tình trạng bị thiếu i-ốt, uống rượu thường xuyên trong thời gian dài, thói quen hút thuốc lá, thừa cân béo phì,…

Do đó, khi mọi người có các yếu tố nguy cơ kể trên nên đến các cơ sở y tế để khám và kiểm tra sức khỏe định kỳ. Mỗi người nên đi khám ít nhất 6 tháng một lần để có thể kiểm soát tình trạng sức khoẻ và phát hiện ra bệnh sớm nhé.

4, Ung thư tuyến giáp được phân loại như thế nào?

Để thuận tiện cho việc chẩn đoán và điều trị, người ta thường phân chia tuyến giáp thành các loại khác nhau, phù hợp cho các cách xử trí bệnh khác nhau.

Theo tổ chức y tế thế giới WHO, bệnh ung thư tuyến giáp được phân loại theo giải phẫu bệnh là đặc hiệu nhất. Theo đó bệnh được chia làm 4 loại cơ bản như sau:

U ác tính tiên phát dạng biểu mô gồm có:

  • Ung thư biểu mô được biệt hóa từ các nang tuyến có dạng nang, dạng nhú hay được biệt hóa từ tế bào C tại tuyến giáp.
  • Ung thư biểu mô với tế bào không biệt hóa.
  • Ung thư biểu mô khác.

U ác tính tiên phát không phải là dạng biểu mô gồm có:

  • Ung thư mô liên kết
  • U tổ chức lympho ác tính
  • Các loại u khác như u quái ác tính, u tế bào hình thoi có kèm theo nang…

Các khối u thứ phát:

Trong trường hợp này, các cơ quan bị bệnh ban đầu không nằm ở tuyến giáp mà xuất hiện ở một vị trí khác trên cơ thể, sau đó các tế bào ung thư bị di căn và di chuyển đến tuyến giáp và hình thành tổ chức ung thư tại tuyến giáp.

Các u không được xếp loại

5, Các triệu chứng của bệnh ung thư tuyến giáp

Các triệu chứng của bệnh ung thư tuyến giáp
Các triệu chứng của bệnh ung thư tuyến giáp

Ung thư tuyến giáp là một bệnh diễn biến âm thầm trong suốt thời kỳ đầu của bệnh. Bệnh chỉ có xuất hiện các dấu hiệu đặc trưng khi đã đến giai đoạn giữa hoặc giai đoạn cuối. Đối với bệnh ung thư tuyến giáp, những triệu chứng sớm của bệnh hầu như không gây ảnh hưởng nhiều đến các hoạt động và sinh hoạt của con người nên đôi khi bệnh thường bị bỏ qua. Chỉ đến khi bệnh trở nặng và xuất hiện những triệu chứng hay biến chứng nặng hơn thì chúng ta mới đến cơ sở y tế để khám.

Dưới đây là một số triệu chứng chung của ung thư tuyến giáp mà các bạn nên quan tâm:

Triệu chứng xuất hiện sớm:

  • Khi xuất hiện khối u ở tuyến giáp trạng, khối u đó sẽ có những đặc trưng như cứng, chắc, bờ rõ, nổi gồ trên bề mặt da, tạo thành một khối cứng to gồ ở cùng cổ, bề mặt của khối u có thể nhẵn hay gồ ghề, di động theo nhịp nuốt nước bọt.
  • Sau đó bệnh nhân sẽ xuất hiện thêm các hạch ở vùng cổ, hạch có tính chất nhỏ, tương đối mềm, di động và nằm cùng bên với bên của khối u.

Triệu chứng xuất hiện muộn:

  • Khối u ngày càng tăng về kích thước, có mật độ chắc và rắn hơn, lúc này khối u ác tính đã cố định trước cổ, khó di động.
  • Khàn tiếng xuất hiện từ từ, đôi lúc khối u to chèn ép vào khí quản có thể có hiện tượng khó thở.
  • Ngoài ra hậu quả của kích thước khối u to đó là có khó nuốt, nuốt vướng do khối u chèn ép vào thực quản người bệnh.
  • Da vùng cổ vị trí của tuyến giáp có thể bị thâm nhiễm, thay đổi màu sắc hoặc sùi loét chảy máu.

Khi bạn nhận thấy những điều bất thường kể trên xuất hiện trên cơ thể, bạn hãy đến ngay cơ sở y tế tuyến chuyên khoa để được khám, kiểm tra và điều trị kịp thời.

Ngoài ra, mỗi loại ung thư tuyến giáp sẽ có các triệu chứng đặc trưng riêng biệt như sau:

  • Ung thư biểu mô tuyến giáp dạng nang

Thể ung thư biểu mô tuyến giáp dạng nang chiếm khoảng 10% trong số những bệnh lý ác tính của tuyến giáp. Bệnh thường gặp nhiều ở phụ nữ và ít gặp hơn ở nam giới, tỷ lệ nữ:nam gần như là xấp xỉ 3:1. Độ tuổi trung bình thường gặp của thể này là khoảng xung quanh độ tuổi 50 và bệnh này thường gặp nhiều ở những vùng có tỉ lệ thiếu iod cao như vùng sâu vùng xa, vùng núi, vùng biên giới, hải đảo,…

Đại thể của bệnh được đặc trưng bởi sự hình thành nhiều nhân cứng, chắc, rất ít trường hợp tăng nhanh về thể tích hoặc có tiền sử bướu giáp trước đó. Có bản chất là được cấu tạo bởi tổ chức dạng những nang nhỏ ít tạo keo, bệnh ung thư biểu mô tuyến giáp dạng nang rất khó phân biệt với dạng u tuyến nhú.

Ung thư tuyến giáp ở dạng này thường có tốc độ phát triển và xâm lấn các tổ chức xung quanh nhanh hơn so với u dạng nhú. Có thể dễ dàng lan đến các hạch vùng hoặc theo dòng máu di căn xa đến xương và phổi của người bệnh.

  • Ung thư biểu mô tuyến giáp tế bào Hurthle 

Thể ung thư này chiếm khoảng 3% trong tổng số các bệnh lý về ung thư tuyến giáp. Các khối u của tế bào Hurthle được coi như là một biến đổi của tổ chức tăng sinh hệ thống tế bào biểu mô dạng nang ở tuyến giáp. Trong cấu tạo của u có chứa nhiều mảnh thành phần của các tế bào ưa base mà trong đó có chứa nhiều ti lạp thể. Chúng được nghiên cứu và xác định là có nguồn gốc từ những mô bào ưa oxy của tuyến giáp và loại tế bào này cho đến nay vẫn chưa thể xác định rõ về mặt chức năng. Ung thư biểu mô tuyến giáp tế bào Hurthle có thụ thể TSH và sản xuất ra hormon Thyroglobulin nhưng chỉ 10% loại u ác tính này có chức năng bắt giữ nguyên tử iod.

  • Ung thư biểu mô tuyến giáp dạng nhú

Đây là thể bệnh thường hay gặp nhất, chiếm khoảng 80% các loại ung thư tuyến giáp, ở trẻ em bệnh có thể xuất hiện với tỉ lệ là 75%, trẻ gái gặp nhiều hơn trẻ nam, tỷ lệ nữ: nam là khoảng 2: 1 ở độ tuổi 30 – 40 tuổi. Tỷ lệ bệnh sẽ cao hơn ở những đối tượng là những người có tiền sử phơi nhiễm với các chất phóng xạ tại ở vùng cổ, tỉ lệ này có thể lên đến 90%.

Đa số những người mắc bệnh ung thư tuyến giáp vẫn có khả năng hoạt động và có chức năng như bình thường. Trong thể ung thư biểu mô tuyến giáp dạng nhú thường là sự xuất hiện một nhân cứng, chắc, rắn, ấn không đau. Bệnh nhân có thể có hiện tượng khó nuốt nước bọt hay thức ăn, khó thở và khàn giọng khi nói do khối u chèn ép lên khí quản, thực quản, thanh quản.

Ở thể này tỷ lệ xuất hiện khối u di căn xa chiếm khoảng 1 đến 15%, và thường là di căn đến phổi. Loại hình di căn này hay gặp ở những người trẻ tuổi.

Hình ảnh vi thể carcinôm tuyến giáp dạng nhú
Hình ảnh vi thể carcinôm tuyến giáp dạng nhú
  • Ung thư tủy giáp trạng

Loại ung thư này có tỷ lệ chiếm khoảng 5% trong tổng số các loại ung thư biểu mô tuyến giáp. Các khối u ác tính có nguồn gốc hình thành và được phát triển từ các tế bào C, tế bào cận nang giáp,… Ung thư tủy giáp trạng thường gặp phổ biến ở nữ giới với tỷ lệ nữ/nam là 1,5. Thể bệnh có xu hướng tản phát và gặp nhiều hơn ở những người độ tuổi trung niên, lớn tuổi nằm trong khoảng 50 cho đến 60 tuổi. Trong khi đó thể bệnh mang tính chất gia đình gặp ở tuổi trẻ hơn nhiều hơn.

Người bệnh thường có các biểu hiện ở trên cơ thể như là có khối u lớn ở cổ và nổi hạch đi kèm (15-20% các trường hợp có kèm theo nổi hạch). Bệnh nhân sẽ có cảm giác đau tăng lên tại vùng cổ mỗi khi nuốt, nói và thường gặp kèm theo tình trạng khó nuốt, khó nói, khó thở, có thể bị rối loạn đường tiêu hóa cụ thể là tiêu chảy ở trong trường hợp di căn rộng.

  • Thể ung thư tuyến giáp không biệt hóa

Đây là một thể bệnh ít gặp và theo nghiên cứu tại Mỹ, thể ung thư này chiếm khoảng 1% trong tổng số các bệnh lý ác tính về tuyến giáp. Các nhà nghiên cứu cho rằng tỷ lệ này có sự liên quan nhiều đến việc dự phòng tốt hay không các rối loạn do tình trạng thiếu Iod gây nên. Bệnh rất hiếm gặp ở những người trẻ dưới 50 tuổi và tỷ lệ nữ/nam  là 1,5.

Trên lâm sàng dấu hiệu gợi ý của thể bệnh này đầu tiên và sớm nhất đó là sự xuất hiện một bướu giáp lớn. Bướu đó phát triển nhanh chóng trong một khoảng thời gian ngắn và to nhiều hơn so với bình thường, ở một hoặc toàn bộ các thùy của tuyến giáp với tính chất cứng, rắn như đá. Có thể có hiện tượng dính chặt vào khí quản gây hiện tượng khó thở, chèn ép thực quản dẫn đến hiện tượng mất di động của hoạt động nuốt và khàn giọng do chèn ép vào dây thanh quản cũng như khó phát âm hay nói giọng đôi do liệt dây thần kinh quặt ngược.

  • U tổ chức lympho ác tính

Thường gặp ở các đối tượng là nữ giới và rất ít khi gặp ở nam giới. Thể bệnh này có tỷ lệ khoảng 1% trong tổng số các bệnh lý tuyến giáp ác tính và phần lớn tế bào ác tính là loại tế bào lympho B không Hodgkin. Đây là loại ung thư tuyến giáp phát triển với tốc độ khá là nhanh nhưng lại có đáp ứng tương đối tốt với điều trị nếu như chúng ta phát hiện và can thiệp điều trị bệnh ở giai đoạn sớm.

U tổ chức lympho ác tính sẽ có thể phát triển một phần từ những khối u lympho chung hoặc có thể phát triển nguyên phát từ các tổ chức tuyến giáp. U tổ chức lympho ác tính tuyến giáp có thể phát triển từ bệnh lý viêm giáp mạn tính Hashimoto (bệnh này rất hiếm khi gặp ở nước ta).

Triệu chứng lâm sàng của u tổ chức lympho ác tính cũng gần giống ung thư tuyến giáp thể không biệt hóa, đó là sự xuất hiện của khối u lớn nhanh, cứng, chắc và ấn không đau. Để chẩn đoán xác định thể bệnh này, các bác sĩ ung bướu thường dựa vào kết quả của xét nghiệm sinh thiết mô bệnh học bằng kim nhỏ.

Cũng từ kết quả của sinh thiết bằng kim nhỏ, chúng ta có thể phân biệt được bệnh với các bệnh lý u tổ chức lympho ác tính phát triển từ bệnh lý viêm tuyến giáp mạn tính.

  • Ung thư tuyến giáp thứ phát (ung thư di căn từ các tổ chức khác trong cơ thể đến tuyến giáp)

Hiện nay, các tế bào ung thư di căn theo máu hoặc tổ chức các hạch bạch huyết để đến tuyến giáp là tương đối hiếm gặp, tỉ lệ này rất ít chỉ khoảng  2,8 đến 7,5% và tỉ lệ này được nghiên cứu, khảo sát trên giải phẫu tử thi là 1,9 – 26,4% người bệnh bị ung thư.

Trường hợp bệnh di căn này thường gặp ở những đối tượng trên 50 tuổi hoặc những bệnh nhân đang mắc bệnh ung thư ở các cơ quan khác với thời gian dài và giai đoạn bệnh trầm trọng. Một khi đã xảy ra tình trạng di căn thì sẽ không còn có sự khác biệt về giới tính nam giới cũng như nữ giới nữa.

Theo một số nghiên cứu thì ung thư tuyến giáp có thể do di căn từ ung thư vú tiên phát có tỉ lệ di căn là 20%, phổi có tỉ lệ  là 10-20%, thận có tỉ lệ là  10% và da có tỉ lệ  10 – 39%.

6, Để chẩn đoán ung thư tuyến giáp cần phải làm những cận lâm sàng gì?

Chấn đoán ung thư tuyến giáp qua siêu âm cổ
Chấn đoán ung thư tuyến giáp qua siêu âm cổ

Để chẩn đoán được bệnh ung thư tuyến giáp thì chỉ dựa và các triệu chứng lâm sàng kể trên thì chưa đủ. Để xác định chính xác, người ta thường phải chỉ định làm thêm một số cận lâm sàng sau đây:

  • Siêu âm tuyến giáp trạng

Phương pháp siêu âm tuyến giáp hiện nay đang là một phương tiện để chẩn đoán bệnh lý tuyến giáp. Qua siêu âm, các bác sĩ sẽ thông qua các hình ảnh tương đối chính xác để chẩn đoán xác định các bệnh lý tuyến giáp nói chung và bệnh ung thư tuyến giáp nói riêng. Phương pháp này có ưu điểm đó là thời gian thực hiện tương đối nhanh, đơn giản, an toàn và không hề gây độc hại đối với bệnh nhân hay bác sĩ, rất hiệu quả trong việc dùng để đánh giá cấu trúc tuyến giáp.

Ngoài ra khi sử dụng phương pháp siêu âm chúng ta còn có thể đánh giá được chính xác vị trí của các nhân giáp và kích thước của chúng, qua đó phát hiện được những bất thường trong nhân giáp mà đôi khi không sờ thấy hay phát hiện được bằng mắt thường khi thăm khám.

Tuy nhiên để có kết quả chính xác thì người bác sĩ siêu âm cần phải có một lượng kiến thức và kỹ năng chuẩn xác và rộng để đọc kết quả một cách chính xác nhất. Bên cạnh đó, siêu âm còn được sử dụng nhiều để hỗ trợ thực hiện sinh thiết. Người ta thường dựa trên hướng dẫn của siêu âm để tiến hành sinh thiết bằng kim nhỏ đối với các tế bào nhân giáp.

  • Sử dụng kỹ thuật xạ hình tuyến giáp

Xạ hình tuyến giáp là một phương pháp cận lâm sàng được sử dụng để đánh giá mức độ hấp thu các phân tử iot của các nhân giáp trạng. Các nhân nóng (hay còn gọi là nhân thu nhận iod phóng xạ) sẽ ít có nguy cơ trở thành khối u ác tính hơn các nốt nhân lạnh (hay còn gọi là nhân không nhận iod phóng xạ). Trên xạ hình tuyến giáp hình ảnh của nhân lạnh sẽ được nghi ngờ đó là ung thư cho tới khi tìm được bằng chứng loại bỏ nghi ngờ đó.

Trường hợp bướu giáp có sự hình thành nhiều nhân xuất hiện từ trước, sau đó bị thoái hóa trở thành các tế bào ác tính thì rất khó có thể chẩn đoán và kiểm soát.

Phương pháp xạ hình tuyến giáp có một hạn chế đó là nó rất độc hại đối với cơ thể bệnh nhân do người ta phải sử dụng các chất phóng xạ để thực hiện. Giá thành của phương pháp này cũng tương đối cao và nhất là độ ly giải hình ảnh không quá cao, chủ yếu hai bình diện nên đôi khi còn bỏ sót tổn thương. Vì vậy, hiện nay phương pháp này rất ít khi được sử dụng để chẩn đoán trong bệnh ung thư tuyến giáp.

  • Chụp cắt lớp và chụp cộng hưởng từ tuyến giáp

Chụp cắt lớp vi tính có chất cản quang chứa iod và chụp cộng hưởng từ tuyến giáp trạng hiện nay đang là hai phương pháp tốt nhất, hiện đại nhất để đánh giá sự di căn của ung thư tuyến giáp vào các tổ chức lân cận. Các di căn đó có thể là di căn vào các hạch bạch huyết hoặc di căn tới các cơ quan khác.

Đối với phim chụp CT có cản quang sẽ cho chúng ta thấy hình ảnh chi tiết của tuyến giáp đồng thời cũng đánh giá được tình trạng di căn hạch và phân loại theo TNM tốt hơn phim cộng hưởng từ MRI. Không những thế, khi sử dụng phim CT giá thành cũng sẽ ít tốn kém hơn so với chụp MRI.

Hạn chế của phim chụp cắt lớp vi tính có cản quang iod là sẽ ngăn cản khả năng hấp thu iod tại tuyến giáp nếu bệnh nhân làm phương pháp xạ hình sau đó. Hoặc có thể gây nên tình trạng ngộ độc giáp trạng nếu trong trường hợp sử dụng quá liều quy định chất cản quang iod.

Khi sử dụng phim MRI sẽ không cần dùng các chất cản quang iod và không có nguy cơ bị độc hại do yếu tố phóng xạ. Ngoài ra phim MRI cũng giúp cho bác sĩ có thể cho thấy rõ được tuyến giáp và các cấu trúc lân cận.

  • Chọc hút tế bào bằng kim nhỏ

Đây là phương pháp dùng để chẩn đoán xác định bệnh ung thư tuyến giáp bởi vì phương pháp này có độ nhạy và độ đặc hiệu rất cao, có thể trên 90%. Đặc biệt là khi tiến hành chọc hút dưới hướng dẫn của siêu âm thì độ đặc hiệu của phương pháp này càng được nâng cao hơn.

Ngoài những phương pháp chính đã kể như trên thì cũng có một số xét nghiệm khác cũng góp phần giúp hỗ trợ trong việc chẩn đoán ung thư tuyến giáp như:

  • Định lượng LT3, LT4 và TSH
  • Định lượng thyroglobulin
  • Định lượng ACE
  • Khám Tai- Mũi- Họng: Để phát hiện các hiện tượng chèn ép của khối u tuyến giáp lên các cơ quan khu vực vực xung quanh như khí quản, thực quản, thanh quản. Và để phát hiện một dây thần kinh quặt ngược bị liệt nếu có.
  • Siêu âm gan: Phát hiện có tình trạng di căn của ung thư ở gan lên tuyến giáp hay không.
  • Fluorodeoxyglucose (FDG)-Positron Emission Tomography (PET): Để phát hiện ung thư giáp di căn tới các cơ quan bộ phận khác hay không?
  • Chụp phim X quang tim phổi thẳng

7, Chẩn đoán bệnh ung thư tuyến giáp như thế nào?

Chẩn đoán xác định:

Để chẩn đoán xác định bệnh ung thư tuyến giáp chúng ta cần phải dựa vào tiêu chuẩn vàng đó là: Kết quả của xét giải phẫu mô bệnh học.

Chẩn đoán phân biệt

  • Bệnh lý ngoài tuyến giáp gồm có: U nang ống giáp lưỡi, nổi hạch ở cổ do bị bệnh ung thư vùng tai- mũi- họng.
  • Bệnh tại tuyến giáp gồm có: bướu giáp nhân, bướu giáp nhiều nhân không đồng nhất
  • Di căn xương

8, Điều trị ung thư tuyến giáp như thế nào?

Cách điều trị ung thư tuyến giáp
Cách điều trị ung thư tuyến giáp

Hiện nay cùng với sự phát triển về y học và kỹ thuật vấn đề điều trị các bệnh ung thư nói chung và ung thư tuyến giáp trạng nói riêng cũng đã đạt được những thành tựu cơ bản. Để điều trị ung thư tuyến giáp chúng ta phải kết hợp nhiều phương pháp điều trị với nhau mà không phải chỉ dùng duy nhất một phương pháp. Kết hợp các phương pháp để điều trị sẽ làm tăng hiệu quả hơn.

Việc lựa chọn các phương pháp cần dựa vào một số yếu tố như sau:

  • Đang mắc ung thư gì, ở bộ phận nào và giai đoạn của bệnh ung thư
  • Tác dụng phụ của phương pháp
  • Yêu cầu của bệnh nhân
  • Tình hình sức khỏe hiện tại của bệnh nhân, các bệnh lý nền kèm theo
  • Tuổi của bệnh nhân
  • Tình trạng kinh tế của bệnh nhân…

Hiện nay  hầu hết ung thư tuyến giáp đều có thể chữa được tuy nhiên sẽ có nhiều ý kiến khác nhau trong quá trình điều trị đặc biệt là việc lựa chọn sử dụng phương pháp điều trị nào vào giai đoạn nào của bệnh.

Phương pháp phẫu thuật u tuyến giáp

Đây là phương pháp được sử dụng phổ biến nhất hiện nay để cắt bỏ hoàn toàn khối u và bóc hết hạch và các thành phần xung quanh có liên quan. Các phương pháp phẫu thuật được lựa chọn nhiều như là:

  • Cắt bỏ một phần tuyến giáp là phần thùy có chứa khối u
  • Cắt bỏ toàn bộ tuyến giáp.

Bệnh nhân sau khi được điều trị bằng phương pháp phẫu thuật sẽ sử dụng hormon thay thế cho hoocmon tuyến giáp để đảm bảo sự hoạt động bình thường của các chức năng trong cơ thể. Ngoài việc thay thế cho T3 và T4 do tuyến giáp tiết ra còn có vai trò ngăn chặn sự phát triển của các tế bào ác tính còn sót lại. Hormone sử dụng để thay thế thường được sử dụng đó là levothyroxine dưới dạng viên nén và được sự theo dõi và hướng dẫn của bác sĩ khi sử dụng.

Ngoài ra còn có thể kết hợp điều trị bằng liệu pháp iod phóng xạ hoặc là xạ trị: Tùy theo phác đồ điều trị của từng bệnh nhân mà sẽ lựa chọn những liệu pháp phù hợp.

Đối với điều trị ung thư tuyến giáp phương pháp hóa trị ít khi khi được sử dụng vì không đem lại hiệu quả cao mà lại còn gây ảnh hưởng nhiều đến thể trạng của người bệnh.

Sau khi điều trị bệnh ổn định theo khuyến cáo của bác sĩ và các chuyên gia y tế bạn nên đến khám 3 tháng/lần liên tiếp trong vòng hai năm đầu và 1 năm/lần trong những năm tiếp theo để làm các xét nghiệm và kiểm tra xem ung thư có tái phát hay không. Các xét nghiệm có thể bao gồm: khám lâm sàng, siêu âm tuyến giáp, chụp x quang ngực, siêu âm ổ bụng, xét nghiệm máu.

Có một điều lưu ý đó là trong khi sử dụng thuốc hormon thay thế sẽ xảy ra một số tác dụng dụng không mong muốn. Bạn cần phải theo dõi, ngừng sử dụng và đến ngay cơ sở y tế để được sự hướng dẫn của bác sĩ điều trị.

9, Tiên lượng về bệnh ung thư tuyến giáp

Bệnh ung thư tuyến giáp hoàn toàn có thể chữa khỏi nếu như chúng ta phát hiện ở giai đoạn sớm của bệnh.

Ung thư tuyến giáp là một trong những bệnh lý có tiên lượng rất tốt và tỉ lệ sống thêm sau khi điều trị khỏi bệnh là 10 năm.

Ở thể ung thư tủy tuyến giáp, tỷ lệ sống thêm 5 năm khoảng 50% và thể không biệt hóa thời gian sống thêm trung bình từ 6-8 tháng.

Qua bài viết trên chúng tôi đã cung cấp cho bạn một số thông tin về bệnh ung thư tuyến giáp. Nếu bạn có những triệu chứng kể trên hãy đến ngay cơ sở y tế tuyến chuyên khoa để kiểm tra và làm các xét nghiệm cận lâm sàng. Hy vọng những thông tin trên sẽ trang bị kiến thức thêm cho bạn và gia đình để phòng tránh bệnh ung thư tuyến giáp. Chúc bạn và gia đình có một sức khỏe như ý. Xin cảm ơn.

Xem thêm:

Đột quỵ là gì? Nguyên nhân, triệu chứng, cách điều trị và phòng ngừa

Bệnh Alzheimer là gì? Nguyên nhân, Triệu chứng, Cách điều trị

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *